Logo SACT

(094) 543 5430
support@hanghoaphaisinh.com

CT36A, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội

Báo cáo thị trường dầu thô Quý III – Phần II


CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ DẦU

1. Nguồn cung

1.1. Sự thay đổi dòng chảy dầu sau xung đột tại biển Đen

Nga là quốc gia sản xuất dầu lớn thứ 3 và xuất khẩu dầu thô lớn thứ 2 trên thế giới, với khoảng

11% thị phần. Vào tháng 3/2022, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine làm gia tăng căng thẳng giữa Nga và các nền kinh tế phương Tây như Mỹ, khu vực châu Âu. Mỹ dừng nhập khẩu dầu thô từ Nga từ tháng 3. Châu Âu thông qua gói trừng phạt đối với dầu thô Nga kể từ tháng 6, thực hiện vào tháng 12/2022, với việc áp đặt mức trần giá dầu thô 60 USD/thùng đối với dầu thô nhập khẩu bằng đường biển của Nga. Trước chiến tranh, khoảng 29% lượng dầu thô nhập khẩu của Châu Âu đến từ Nga. Điều đó khiến thị trường lo ngại dòng chảy dầu thô từ Nga sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề do các lệnh trừng phạt.

Tuy nhiên, trên thực tế, Nga đã thành công tìm kiếm các thị trường mới thay thế những tổn thất, trong đó nổi bật nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Dòng chảy dầu thô của Nga xuất khẩu sang châu Á liên tục tăng cao, đặc biệt từ đầu năm đến nay.

image 9

Ảnh 1: Xuất khẩu dầu bằng đường biển của Nga

Trước 2022, Saudi Arabia luôn là quốc gia xuất khẩu dầu lớn nhất cho Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng từ sau khi Nga tăng cường vận chuyển dầu sang Châu Á, có những thời điểm Nga vượt Saudi Arabia trở thành nhà cung cấp dầu lớn nhất cho 2 quốc gia châu Á này. Xuất khẩu dầu thô bằng đường biển của Nga không giảm quá nhiều, thậm chí còn vượt mức trước khi xung đột xảy ra.

Dòng chảy dầu thô từ Nga đến Châu Âu sụt giảm mạnh sau khi giới hạn giá có hiệu lực kể từ đầu tháng 12/2022.

image 10

Ảnh 2: Nhập khẩu dầu thô của châu Âu

Điều này buộc EU phải tìm kiếm các thị trường khác thay thế, và khối lượng dầu thô nhập khẩu từ các quốc gia khác gia tăng đáng kể, điển hình như Mỹ (tăng từ 13% lên gần 20% thị phần), Na Uy (từ 10% lên khoảng 18%). Nhu cầu dầu thô của châu Âu nhìn chung vẫn đang được đảm bảo.

Như vậy, sau hơn 1 năm xung đột Biển Đen nổ ra, dòng chảy dầu thô có sự chuyển hướng rõ rệt, nhưng cán cân cung cầu nhìn chung vẫn tương đối đảm bảo khi các quốc gia chủ động tìm kiếm nguồn cung cấp đáp ứng.

1.2. Nhóm OPEC+ can thiệp thị trường

Ngoài việc tiếp tục thực hiện theo kế hoạch cắt giảm sản lượng 2 triệu thùng/ngày kể từ tháng

10 năm ngoái, OPEC+ đã công bố cắt giảm thêm sản lượng tự nguyện khoảng 1,16 triệu thùng/ngày vào tháng 4, có hiệu lực kể từ tháng 5, cho tới cuối năm nay.

image 11

Ảnh 3: Bảng cắt giảm nguồn cung và sản lượng thực tế OPEC ra

Trong 2 triệu thùng/ ngày, mục tiêu cắt giảm của nhóm OPEC-10 (loại trừ 3 nước không tham gia cắt giảm Venezuala, Lybia và Iran) là 1,273 triệu thùng/ngày. Hiện tại, tổng sản lượng nhóm OPEC-10 tháng 4 theo báo cáo của OPEC đạt 24,116 triệu thùng/ ngày, đã giảm 1,282 triệu thùng/ngày so với tháng 10 năm ngoái, khá đảm bảo với mức mục tiêu đưa ra.

Tuy nhiên, giá dầu vẫn không được hỗ trợ quá mạnh trong giai đoạn đầu năm 2023, cho thấy tác động của việc cắt giảm cuối năm ngoái vẫn không đủ sức xoá tan lo ngại về nhu cầu suy yếu. 

Quyết định cắt giảm thêm của OPEC+ đầu tháng 4/2023 đã đưa giá dầu vượt 80 USD/thùng, nhưng nhanh chóng xoá bỏ mức tăng chỉ chưa đầy 1 tháng. Biến động này phần lớn dựa trên yếu tố tâm lý. Việc xác định tác động trên thực tế sẽ được kiểm chứng rõ ràng hơn trong báo cáo  của OPEC từ tháng 6 đến cuối năm.

Trước mắt, dự báo của nhóm OPEC trong báo cáo tháng 5 có tính đến tác động cắt giảm, cho thấy nguồn cung khá hạn hẹp so với nhu cầu trong quý III năm nay. Các báo cáo từ phía Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) và Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) gần như cũng cho thấy góc nhìn tương tự. Cán cân cung cầu mong manh hơn sẽ khiến giá dầu có thể phục hồi trong quý III năm nay.

image 12

Ảnh 4: Dự báo cung – cầu dầu thô của các tổ chức lớn

Saudi Arabia, thủ lĩnh của nhóm OPEC sẽ khó có thể chấp nhận việc giá dầu ở mức thấp, nên nếu kế hoạch cắt giảm tháng 4 vừa qua vẫn chưa đạt hiệu quả, quốc gia này có thể vẫn còn nhiều hành động khó đoán. Đây là quốc gia duy nhất có công suất dự phòng để tăng/giảm sản lượng linh hoạt.

Saudi Arabia đã báo cáo mức thâm hụt 2,91 tỷ riyal (770 triệu USD) trong quý đầu tiên của năm 2023. Doanh thu từ dầu giảm 3% xuống còn 179 tỷ riyal trong 3 tháng đầu năm do giá dầu thô giảm. Các dự báo mới nhất của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra giá dầu hòa vốn của Saudi năm nay ở mức 80,9 USD/thùng, và quốc gia này sẽ không cân bằng ngân sách nếu giá dầu dưới 80 USD/thùng.

Thực tế, sau cuộc họp OPEC+ mới nhất ngày 05/06, Saudi Arabia đã tuyên bố cắt giảm sản lượng thêm 1 triệu thùng dầu/ngày vào tháng 7, trong một nỗ lực hỗ trợ giá dầu. Điều này đưa tổng mức cắt giảm của riêng Saudi Arabia lên tới hơn 2 triệu thùng/ngày. Thủ lĩnh nhóm có thể sẽ duy trì việc cắt giảm sau tháng 7 nếu cần thiết.

Các quốc gia khác trong nhóm OPEC+ mặc dù không cắt giảm thêm, nhưng cũng đã đồng thuận gia hạn toàn bộ mức cắt giảm cho tới cuối năm 2024, thay vì đến cuối năm 2023. 

Như vậy, tổng mức cắt giảm của nhóm có thể lên tới con số 4,66 triệu thùng/ngày, tương đương 4,5% nhu cầu toàn cầu. Biểu đồ 9 cho thấy nhu cầu của thị trường đối với dầu thô của OPEC sẽ tăng mạnh trong 2 quý cuối năm, với quý III cao hơn gần 1,5 triệu thùng so với quý II, và quý IV cao hơn khoảng 2 triệu thùng so với quý II. Do đó, nếu Saudi thực hiện cắt giảm mạnh tay, trên thực tế sẽ rất dễ xảy ra thiếu hụt nguồn cung trên thị trường và đây sẽ là yếu tố hỗ trợ giá dầu trong quý III.

1.3. Nguồn cung tại Mỹ 

Sau thời gian bùng nổ về sản lượng dầu đá phiến trong giai đoạn 2018 – 2020, các nhà khai thác Mỹ đã trải qua thời kỳ khó khăn khi nhu cầu dầu thế giới giảm mạnh do dịch Covid-19. Sự dư thừa nguồn cung đã kéo giá dầu suy yếu, và biên lợi nhuận của các doanh nghiệp khai thác bị siết chặt.

Do đó, các ông lớn ngành khai thác dầu Mỹ đang hạn chế đáng kể gia tăng sản lượng. Mặc dù sản lượng dầu Mỹ vẫn đang dần phục hồi và đạt khoảng 12,3 triệu thùng/ngày, thấp hơn 5% so với mức đỉnh 13 triệu thùng/ngày vào năm 2020.

image 13

Ảnh 5: Số lượng DUC và Sản lượng dầu Mỹ

Tuy nhiên, sản lượng gia tăng vẫn đến từ việc khai thác các DUC (giếng đã khoan chưa được hoàn thành). Nếu nhìn sâu hơn, có thể thấy xu hướng giảm mạnh của các DUC, biểu thị cho sự sụt giảm trong các hoạt động khoan thêm. Đây là tiền đề dự báo cho mức sản lượng chững lại trong dài hạn.

Số giàn khoan dầu khí của Mỹ hiện cũng đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 5/2022. Trong tháng 5, số giàn khoan giảm tổng cộng 44 giàn, mức giảm theo tháng nhiều nhất trong vòng 3 năm qua.

Mặc dù vậy, với việc OPEC+ cắt giảm sản lượng, đặc biệt là Saudi Arabia, được kỳ vọng sẽ hạn chế đà giảm nhất định của giá dầu. Giá dầu phục hồi sẽ lại là yếu tố thúc đẩy các nhà sản xuất Mỹ tích cực trong hoạt động khai thác hơn, và điều này sẽ bổ sung nguồn cung cho thị trường. Do đó, về tổng thể, các nước nhập khẩu nhiều dầu từ Mỹ cũng sẽ được đảm bảo tương đối về nguồn cung.

2- Nhu cầu

2.1. Trung Quốc – kỳ vọng nhu cầu bùng nổ hậu mở cửa

Trong 4 tháng đầu năm, nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc tăng nhẹ hơn 3% lên hơn 173 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu dầu tại Trung Quốc đang cho thấy đà phục hồi đáng kể sau khi mở cửa trở lại. Đặc biệt, thông lượng lọc dầu tăng kỷ lục. Thông lượng lọc dầu của Trung Quốc trong tháng 4 tăng 18,9% so với cùng kỳ năm ngoái lên mức 61,1 triệu tấn, mức cao thứ hai được ghi nhận.

Tuy nhiên, bảng theo dõi sau đây chỉ ra xu hướng liên tục bổ sung dầu vào kho dự trữ (được ước tính do Trung Quốc không công bố dữ liệu chính thức về kho dự trữ). 

image 14

Ảnh 6: Bảng theo dõi nhu cầu dầu thô Trung Quốc

Bên cạnh đó, Trung Quốc ban hành hạn ngạch xuất khẩu 18,99 triệu tấn cho nhiên liệu tinh chế trong đợt phân bổ đầu tiên vào năm 2023, tăng 46% từ sự phân bổ tương ứng vào năm 2022, nhằm mục đích tăng cường sản lượng của nhà máy lọc dầu và hi vọng sẽ đạt được tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu cao hơn, giúp thúc đẩy xuất khẩu. Riêng tháng 4, nhiều khả năng Trung Quốc đã rút dầu thô từ kho dự trữ khi thông lượng lọc dầu lớn hơn tổng nguồn sẵn có, cho thấy đà phục hồi nhẹ. Mặc dù vậy, bức tranh chung vẫn phản ánh nhu cầu nội địa thực tế vẫn còn yếu.

2.2.  Mùa tiêu thụ cao điểm tại Mỹ

Quý III, thông thường là sau Ngày lễ Tưởng niệm 29/05 sẽ là mùa tiêu thụ cao điểm do nhu cầu di chuyển tăng cao của Mỹ. Đây là yếu tố mùa vụ có thể hỗ trợ cho giá dầu trong ngắn hạn. 

So với cùng kỳ mùa di chuyển cao điểm trong các năm trước, tồn kho xăng tại Mỹ đang ở mức thấp nhất kể từ năm 2014. Một phần, lo ngại nền kinh tế tăng trưởng chậm có thể hạn chế sức tiêu thụ đã khiến các nhà sản xuất giữ mức tồn kho thấp. Trong ngắn hạn, nhu cầu xăng dầu tăng theo mùa trong khi mức tồn kho thấp sẽ hỗ trợ cho giá dầu trong quý III.

image 15

Ảnh 7: Giá xăng trung bình tại Mỹ

Giá xăng ở Mỹ tăng nhẹ vào Ngày Tưởng niệm (29/05), ngày chính thức bắt đầu mùa lái xe cao điểm, trung bình đạt 3,582 USD/gallon, tăng từ mức 3,540 USD một tuần trước, nhưng giảm so với mức trung bình của tháng trước là 3,615 USD và mức trung bình của năm trước là 4,610 USD. Nhu cầu nhiên liệu cho hoạt động di chuyển vẫn đang   tương đối hạn chế.

2.3. Sự bổ sung dầu vào kho dự trữ chiến lược SPR

Một yếu tố khác có thể sẽ tác động tới giá dầu trong giai đoạn tới là khả năng bổ sung dầu vào kho dự trữ chiến lược của Mỹ (SPR). Trong năm ngoái, Mỹ đã giải phóng tổng cộng hơn 200 triệu thùng dầu từ SPR với nỗ lực tăng cung, hạ nhiệt giá dầu trong bối cảnh xung đột giữa Nga và Ukraine nổ ra kéo giá tăng vọt.

image 16

Ảnh 8: Tồn kho dầu thô chiến lược Mỹ

Hiện tại, tồn kho SPR của Mỹ đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 10/1983. Trong dài hạn, Mỹ vẫn sẽ phải tìm cách bổ sung thêm dầu vào kho dự trữ này nhằm đảm bảo an ninh năng lượng cho những trường hợp khẩn cấp.

Giữa tháng 5/2023, Bộ Năng lượng Mỹ đã thông báo sẽ mua 3 triệu thùng dầu thô bổ sung vào kho SPR, giao hàng vào tháng 8. Tuy nhiên, con số này vẫn đang rất khiêm tốn, nhưng có thể sẽ là các tín hiệu ban đầu cho công cuộc mua dầu bổ sung của Chính phủ Mỹ.

3. Yếu tố vĩ mô

3.1. Bài toán thắt chặt tiền tệ của Fed

Trong các yếu tố vĩ mô, chính sách tiền tệ của Fed luôn có sức ảnh hưởng lớn tới thị trường dầu. Một mặt, các hợp đồng tương lai dầu thô WTI và dầu thô Brent cùng với các giao dịch trên thị trường hàng vật chất, thương mại dầu thô quốc tế đều đang sử dụng đồng USD. Vì thế giá dầu thường có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với giá trị của đồng USD. 

Hiện nay, Fed vẫn đang duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, với 10 lần tăng lãi suất liên tiếp kể từ tháng 3/2022. Mức lãi suất đang được duy trì là 5,00 – 5,25%. Mặc dù các nhà hoạch định chính sách đã phát ra tín hiệu sẽ sớm dừng chu kỳ tăng lãi suất, tuy nhiên quyết định này phụ thuộc vào tình hình lạm phát tại Mỹ.

Hiện tại cả ba thước đo lạm phát là Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), và chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) đều đã hạ nhiệt rõ rệt so với mức đỉnh hồi tháng 7 năm ngoái.

image 17

Ảnh 9: Các chỉ số lạm phát Mỹ

Mức lạm phát tiêu dùng đang cao hơn khoảng 5% so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên, các chỉ số CPI, PPI và PCE lõi (ngoại trừ giá năng lượng và thực phẩm) vẫn cao hơn dự báo trong các tháng gần đây. 

Bên cạnh việc giải quyết bài toán chi phí, Fed cũng có mục tiêu “Hạ cánh mềm”, xu thế tăng trưởng kinh tế giảm tốc để kiềm chế lạm phát, nhưng không làm cho nền kinh tế rơi vào suy thoái. Các số liệu việc làm trong thời gian gần đây, tiêu biểu là Bảng lương Phi nông nghiệp cho thấy thị trường việc làm chịu ảnh hưởng nhất định từ các chính sách tiền tệ thắt chặt của Fed. Thị trường đang kỳ vọng Fed chỉ tăng lãi suất thêm tối đa hai lần nữa trong năm nay. Điều này đồng nghĩa với việc mức lãi suất đỉnh của năm nay là 5,50% – 5,75%. 

Tuy nhiên, đây là một kịch bản rất tiêu cực với thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Đồng thời, sau cuộc khủng hoảng của ngành ngân hàng cùng với áp lực nợ công lớn của Chính phủ Mỹ, Fed có thể sẽ không gây áp lực nhiều nên nền kinh tế trong thời gian còn lại của năm nay.

Trên cơ sở lạm phát đã có dấu hiệu hạ nhiệt rõ ràng, cùng với mục tiêu “Hạ cánh mềm” chúng tôi dự báo trong kịch bản tiêu cực, Fed có thể sẽ chỉ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong cuộc họp tháng 6 sắp tới. Trong kịch bản tích cực, mức lãi suất 5,00 – 5,25% sẽ được duy trì tối thiểu tới hết quý III năm nay để tránh gây sức ép lên các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời cũng là cơ hội để Fed kiểm nghiệm sức khỏe của nền kinh tế Mỹ.

3.2. Rủi ro suy thoái kinh tế tại Mỹ và châu Âu

Dầu thô vốn là nguyên liệu đầu vào quan trọng của ngành kinh tế, nên giá dầu chịu ảnh hưởng bởi triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế lớn. Các nước thuộc hai khu vực Bắc Mỹ, và châu Âu phần lớn là những nền kinh tế phát triển, và là những nhà tiêu thụ dầu thô lớn. 

Tiếp bước Fed, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) cũng liên tục tăng lãi suất. Mặc dù vậy, lạm phát ở các khu vực này vẫn cao hơn rất nhiều so với Mỹ. Các nước châu Âu cũng sẽ gặp khó khăn hơn so với Mỹ khi họ phải đối phó với việc tìm kiếm nguồn cung dầu và khí đốt thay thế Nga. Vì thế, ngay cả khi Fed kết thúc chu kỳ tăng lãi suất, ECB và BOE nhiều khả năng vẫn phải tăng lãi suất để hạ nhiệt lạm phát.

image 18

Ảnh 10: Chỉ số quản lý thu mua khu vực EU

Hoạt động sản xuất của châu Âu và Anh cũng suy yếu, phản ánh qua chỉ số Quản lý Thu mua

(PMI) sản xuất có xu hướng giảm và luôn ở dưới mức 50 điểm trong một năm trở lại đây. Vì vậy, ECB và BOE cũng sẽ phải cân nhắc đến phương án kết thúc chu kỳ tăng lãi suất sau Mỹ. 

Mối liên hệ giữa nền kinh tế Mỹ, châu Âu và Anh cũng có mối liên hệ chặt chẽ, nên những cuộc khủng hoảng mang tính chất hệ thổng hoặc của ngành ngân hàng sẽ có tác động lan tỏa và làm gia tăng nguy cơ suy thoái. Mặc dù vậy, nếu nền kinh tế Mỹ duy trì được sự ổn định từ cuối quý II, nền kinh tế của các nước châu Âu dù không tăng trưởng mạnh nhưng cũng tránh được kịch bản rơi vào suy thoái.

3.3.  Tốc độ phục hồi nền kinh tế Trung Quốc

Triển vọng phục hồi của Trung Quốc vốn là động lực tăng trưởng chính của giá dầu trong Quý I năm nay. Tuy nhiên, sau đó nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu đánh mất đà hồi phục, và tác động của thị trường này đối với giá dầu đang trở nên mờ nhạt trong đầu Quý II.

image 19

Ảnh11: Lãi suất cho vay cơ bản của Trung Quốc (LPR)

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) hiện vẫn duy trì lãi suất ở mức 3,65% và chưa đưa ra tín hiệu cắt giảm lãi suất. PBOC cũng thực hiện nhiều đợt bơm tiền với quy mô nhỏ, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trên thị trường tài chính thay vì thực hiện mục tiêu kích thích kinh tế.

Hiện các nhà đầu tư đang kỳ vọng PBOC sẽ tiến hành cắt giảm mức dự trữ bắt buộc từ 10,75% xuống 10,50% trong quý III. Ngay cả khi kịch bản này xảy ra, các nhà đầu tư cũng sẽ cần thời gian để phân tích và quan sát tác động của chính sách này.  Bên cạnh đó, Trung Quốc dưới thời của Tổng Bí thư Tập Cận Bình cũng đang đẩy mạnh phát triển hệ thống năng lượng tái tạo, và giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch như

dầu thô và than đá. Trung Quốc đang là quốc gia có tốc độ phát triển hệ thống năng lượng tái tạo hàng đầu thế giới.

Vì thế, ngay cả khi nền kinh tế Trung Quốc hồi phục mạnh mẽ, giá dầu cũng chỉ nhận được sự hỗ trợ khiêm tốn, do yếu tố đa dạng nguồn cung năng lượng của quốc gia này.

3.4. Địa chính trị 

Trong năm 2023, tác động từ các yếu tố địa chính trị lên giá dầu đã giảm so với năm ngoái. Xung đột giữa Nga và Ukraine vẫn chưa chấm dứt, trong khi căng thẳng giữa Trung Quốc và Đài Loan cũng như Trung Quốc và Mỹ có nguy cơ leo thang bất kỳ lúc nào. Vì thế, những rủi ro tiềm ẩn này cũng có thể gây tác động lớn đối với giá dầu thô. 

Các yếu tố địa chính trị thường có tính bất ngờ và khó dự đoán chính xác cho dù sử dụng các phương pháp định tính hay định lượng. Bên cạnh đó, rủi ro địa chính trị thường mang tính hệ thống và sẽ có ảnh hưởng tới toàn bộ thị trường tài chính nói chung. 

Trong kịch bản tích cực, chúng tôi kỳ vọng rủi ro địa chính trị sẽ giảm trong quý III, hoặc căng thẳng giữa Nga – Ukraine, hay Mỹ – Trung – Đài dù có nhưng sẽ không ảnh hưởng mạnh tới giá dầu thô. Trong kịch bản tiêu cực, nếu Nga sử dụng các biện pháp cực đoan hơn trên lãnh thổ Ukraine, hoặc căng thẳng Mỹ – Trung – Đài gia tăng một cách bất ngờ, giá dầu sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực do tâm lý e ngại rủi ro khiến các nhà đầu tư gia tăng tỷ trọng tiền mặt

NHẬN ĐỊNH GIÁ DẦU TRONG GIAI ĐOẠN TỚI  

Trên cơ sở khai thác những luận điểm kể trên, chúng tôi đưa ra ba kịch bản với giá dầu trong quý III/2023

Kịch bảnTÍCH CỰCTRUNG TÍNHTIÊU CỰC
Giá dầu WTI sẽ duy trì trên 75 USD, tiến sát nhưng không vượt quá ngưỡng 80 USDGiá dầu đi ngang trong biên độ 70 76 USDGiá dầu giảm về 60 USD
Yếu tố nguồn cung+ Số liệu cho thấy sản lượng của OPEC+ quý III giảm thêm 1,66 triệu thùng dầu/ngày đúng như mục tiêu. + Sản lượng dầu của Saudi Arabia đạt từ 9 – 9,3 triệu thùng/ngày trong tháng 7 (mức đảm bảo cắt giảm tự nguyện thêm 1 triệu thùng/ngày) + Xuất khẩu dầu của Nga không tăng + Các công ty khai thác dầu tại Mỹ thận trọng trong việc gia tăng nguồn cung. Số lượng giàn khoan dầu khí tiếp tục giảm.   + Sản lượng của OPEC+ giảm ít hơn mức cam kết 1,66 triệu thùng/ngày. + Saudi không tiến hành gia hạn cắt giảm tự nguyện 1 triệu thùng/ ngày sau tháng 7. + Xuất khẩu dầu của Nga không cho thấy tín hiệu cắt giảm mạnh 500,000 thùng/ngày + Mỹ gia tăng sản lượng nhằm bù đắp các lo ngại về tình trạng thiếu cung, kìm hãm lạm phát.+ Sản lượng của OPEC+ và Saudi Arabia thấp hơn nhiều so với mục tiêu cắt giảm.  + UAE tăng cường sản xuất + Xuất khẩu của Nga tiếp tục đà tăng + Số lượng giàn khoan dầu khí tại Mỹ, và sản lượng tăng trở lại
Yếu tố  tiêu thụ+ Nhu cầu tại Mỹ, châu Âu phục hồi sau khi các Ngân hàng Trung ương kết thúc chu kỳ tăng lãi suất. + Báo cáo tăng trưởng của Mỹ trong quý II cao hơn dự báo của thị trường. + Trung Quốc sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa kích thích kinh tế trong Quý III.   + Fed tạm dừng tăng lãi suất trong tháng 6, nhưng cảnh báo tiếp tục tăng trong các kỳ họp khác. + Báo cáo tăng trưởng của Mỹ trong quý II phù hợp với dự báo. + Nền sản xuất của Trung Quốc mở rộng khiêm tốn trong quý III.+ Fed, ECB và BOE vẫn tiếp tục tăng lãi suất trong cuối quý III + Lãi suất cao khiến cho nền kinh tế châu Âu và Mỹ rơi vào suy thoái, và làm giảm nhu cầu tiêu thụ dầu. + Sự suy yếu của thị trường tài chính sẽ gây sức ép lên giá dầu + Làn sóng vỡ nợ tại các ngân hàng, doanh nghiệp lớn với quy mô trên toàn cầu.     
Đánh giá chungHiện tại giá dầu đang chịu nhiều sức ép từ phía tiêu thụ nhiều hơn. Kịch bản này trở nên khả thi nếu nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong quý III, bởi nếu nguồn cung bị cắt giảm mạnh, khiến giá dầu tăng, các nhà hoạch định chính sách sẽ có những biện pháp để hạ nhiệt giá dầu.  Kịch bản giá dầu nằm trong ngưỡng này có thể đến trong bối cảnh 2 nền kinh tế hàng đầu là Mỹ và Trung Quốc không có nhiều thay đổi đáng kể: Mỹ vẫn gặp áp lực kinh tế do chi phí vay tăng cao, kinh tế Trung Quốc nhận được thêm kích thích, tăng trưởng cải thiện, nhưng các dữ liệu vẫn trái chiều.  Trong khi đó, nguồn cung từ phía OPEC+ vẫn sẽ đảm bảo cắt giảm tương đối sát với kế hoạch. Riêng tháng 7, khi Saudi Arabia cắt giảm thêm 1 triệu thùng/ngày, giá dầu có thể vượt mốc 76 USD nhưng sẽ nhanh chóng hạ nhiệt trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô không quá tích cực.Việc giá dầu duy trì ở mức thấp, xung quanh ngưỡng 60 USD trong thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của đợt suy thoái kinh tế.   
Xác suất15%60%25%
Nguồn tham khảo: Cổng thông tin MXV

Viết một bình luận

Liên hệ

Công ty CP Giao dịch Hàng hoá Đông Nam Á (SACT)

Thành viên kinh doanh chính thức của Sở Giao Dịch Hàng Hóa Việt Nam (MXV)

Trụ sở chính: CT36A, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội.

Chi nhánh HN1: 25 Sunrise B , The Manor Central Park, Hoàng Mai, Hà Nội

024-7304-8884

support@hanghoaphaisinh.com